phone
(+84) 901 388 136
mail
info@lecvietnam.com
place
Đường số 4, KCN Phú Mỹ 1, P.Phú Mỹ, TX.Phú Mỹ, Bà Rịa – Vũng Tàu.
Mar 25, 2020
Tin Tức

Nhập khẩu than, giải pháp “cứu cánh" cho nhu cầu nhiệt điện tăng cao

Nhập khẩu than là giải pháp thiết thực trong bối cảnh cả nước đang cần điện. Cùng xem lại lịch sử và xu hướng nhập khẩu than của Việt Nam để hiểu rõ hoàn cảnh và những hành động của chính phủ cũng như các công ty than trong việc quản lý than nội địa và hoạt động nhập khẩu than.

Tình hình sử dụng than nội địa và nhập khẩu than để sản xuất điện trên thế giới như thế nào ?

Hiện nay, hình thức sử dụng than nội địa và nhập khẩu than để sản xuất điện năng đã có mặt ở 77 nước. Đây là một sự phát triển nhanh chóng bởi con số này chỉ là 65 vào thời điểm những năm 2000. Bên cạnh đó còn 13 nước khác đang có kế hoạch tham gia dấn thân vào ngành công nghiệp nhiệt điện than này. Trong giai đoạn từ 2000 đến 2017, nhiệt điện than thế giới có công suất đã tăng gấp đôi, cụ thể là từ 1.063GW lên đến 1.995GW. Trong đó phải kể đến 3 quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này khi sở hữu tổng công suất nhiệt điện than lớn nhất thế giới là Trung Quốc: 935GW, Hoa Kỳ: 279GW và Ấn Độ: 215GW. Các quốc gia có nền nhiệt điện than tiên tiến tiếp theo là:  Đức: 50GW, Nhật Bản: 44,5GW, Nam Phi: 41,3GW, Hàn Quốc: 38GW, Ba Lan: 29GW và Indonesia: 28,6GW.

nhập khẩu than


Trong các loại năng lượng trên thế giới thì sản lượng điện than là cao nhất với 9.723,4 tỷ kWh, tương đương 38,1% tổng sản lượng điện năng sản xuất của thế giới. Con số nhỉnh hơn hẳn điện khí với vị trí thứ hai 23,1%. Các nước có ngành công nghiệp điện than đá phát triển thường có tỉ trọng ngành này cao hơn các ngành năng lượng khác và các quốc gia đó bao gồm: Nam Phi (87,7%), Ban Lan (78,8%), Ấn Độ (76,3%), Trung Quốc (67,2%), Ka-dắc-xtan (62,4%), Úc (61,3%), In-đô-nê-xia (58,5%), Đài Loan (46,8%), Hàn Quốc (46,3%), Ma-lai-xia (44,7%), LB Đức (37%), Nhật Bản (33,6%), Thổ Nhĩ Kỳ (33%), U-crai-na (32,2%), Mỹ (30,7%).

Tình hình chung của các quốc gia trên thế giới trong thời kỳ đầu phát triển các nhà máy nhiệt điện than chủ yếu đều sử dụng các công nghệ cũ, công suất tổ máy thấp, chỉ dùng lò hơi với thông số hơi dưới tới hạn và cận tới hạn, đồng nghĩa với việc gây nguy hại cho môi trường khi các chỉ số như: tro xỉ, CO2, NO2, SOx còn cao trong lượng khí thải. Khi khoa học kĩ thuật phát triển, việc khắc phục các nhược điểm của thiết bị máy móc gây nguy hại cho môi trường, cụ thể như lắp đặt lọc bụi tĩnh điện để khắc phục tình trạng khói bụi (ngăn tới 99,8% bụi thải ra) và áp dụng công nghệ lò hơi siêu tới hạn vào thực tế, cùng với việc lắp đặt các thiết bị khử SO2, NOx đã hạn chế được khá nhiều các khói bụi, tro xỉ và các chất độc hại.

Nhìn lại lịch sử khai thác và nhập khẩu than để sản xuất điện của Việt Nam

Trước khi nhập khẩu than từ các cường quốc, Việt Nam đã cho khai thác và sử dụng than đá nội địa để cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện từ những năm 1925 (thời kỳ Pháp thuộc). Khởi đầu cho tất cả là nhà máy điện Yên Phụ, sau đó tiếp đến sự phát triển thêm các nhà máy: Phố Cấm, Hải Phòng, Hòn Gai, Lào Cai, Hàm Rồng, Vinh, Việt Trì, Uông Bí... tổng công suất điện khoảng 100 MW (lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ). Trong giai đoạn những năm 1970, Việt Nam tiến hành xây dựng và phát triển thêm các dự án về nhiệt điện than như: Ninh Bình (100 MW); năm 1975 và 1976 mở rộng NĐT Uông Bí (153 MW); đầu những năm 1980: NĐT Phả Lại 1 (440 MW), v.v…

Trong suốt lịch sử chống giặc ngoại xâm của nước ta, các nhà máy nhiệt điện than chính là hậu phương vững chắc cho các kháng chiến. Hơn 30 năm đổi mới, hàng năm nhiệt điện than đóng góp hàng trăm tỷ kWh cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mới có thành quả như ngày nay. Tính đến nay, tổng kết năm 2019, tổng công suất điện cả nước đạt 54.880 MW và nhiệt điện than đóng góp 20.200 MW chiếm tỉ trọng khoảng 36%, nhưng có giá trị cao nhất về sản xuất năng lượng điện. Sản lượng do nhiệt điện than phát ra chiếm 150 tỷ kWh trong tổng số 231 tỷ kWh điện cả năm của Việt Nam. Bởi lẽ, nhiệt điện than là nguồn điện ổn định quanh năm, do thiếu điện nên gần đây thường xuyên vận hành đến con số kỉ lục từ 7.000- 8.000 giờ/năm.

Hiện nay nhu cầu than tăng lên không chỉ cho nhiệt điện mà còn dành cho các ngành công nghiệp khác như luyện kim, xi măng, hoá chất… Ước tính vào năm 2030 nhu cầu về than để đáp ứng 4 lĩnh vực trên sẽ lên đến 25,5 triệu tấn. Nhu cầu tăng, nhưng khả năng khai thác than không thể tăng, do trữ lượng than đang dần cạn kiệt và công nghệ khai thác than trong nước gặp nhiều khó khăn khi phải khai thác xuống sâu. Nguồn cung trong nước không đủ cầu, dẫn đến mức chi ngoại tệ để nhập khẩu than phục vụ nhiều ngành sản xuất ngày càng lớn. Việt Nam đứng trước việc phải nhập khẩu tới 100 triệu tấn than vào năm 2030. 

Ngoài việc nhập đủ số lượng than cần thiết, thì chất lượng và chủng loại than nhập khẩu cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nếu sử dụng nhiều nguồn than, chủng loại than với chất lượng khác nhau thì lò hơi sẽ vận hành không ổn định, tiêu hao than nhiều hơn, suất hao nhiệt của tổ máy.

Xu hướng nhập khẩu than để sản xuất điện trong tương lai của Việt Nam và thế giới

nhập khẩu than

Bằng cách sử dụng than nội địa và nhập khẩu than, trong ngành sản xuất điện năng tồn tại hai xu hướng: Xu hướng giảm, chủ yếu tại các nước OECD (Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Áo, Ai-len, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan v.v...) và xu hướng tăng, chủ yếu các nước ngoài OECD, nhất là các nước: Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Pakistan, v.v.

Theo dự báo của Tổ chức Năng lượng quốc tế, tổng công suất điện than trên thế giới sẽ tăng thêm 947GW trong giai đoạn từ 2015 đến 2040 và trong đó khối OECD tăng 97GW, ngoài OECD tăng đến 850GW, đặc biệt có mức tăng chóng mặt, cụ thể là Trung Quốc 383 GW và Ấn Độ 306 GW.

Cũng theo báo cáo của IEA, sản lượng điện từ các nguồn nhiên liệu hóa thạch ( hay chủ yếu là than đá) của các nước Đông Nam Á sẽ tăng từ 120 TWh năm 1990 lên 1.699 TWh năm 2040, tăng hơn 14 lần. Riêng trong giai đoạn 2020÷2040 tăng 1,8 lần. Tỷ trọng của NĐT sẽ tăng từ 32% (2013) lên 50% (2040). Lý do chính là phải dùng than thay thế cho dầu và khí đốt trong phát điện bị cạn kiệt.

Phương án quản lí hoạt động nhập khẩu than và sử dụng than hiệu quả 

Trước bối cảnh nhu cầu nhập khẩu than tăng cao, chính phủ đã đề ra những giải pháp để kiểm soát các vấn đề liên quan đến nhập khẩu than đồng thời thúc đẩy hoạt động nhập khẩu thuận lợi hơn:

- Phối hợp chặt chẽ hoạt động nhập khẩu và đầu tư khai thác than tại nước ngoài.

- Triển khai xây dựng cảng trung chuyển than nhập khẩu, trung tâm quản lý than, kho bãi, đầu tư vào phát triển các loại tàu vận chuyển chuyên dụng và hệ thống vận chuyển, bốc dỡ than từ các cảng trung chuyển về các nhà máy điện nhiệt than.

- Liên kết hợp tác với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh than trong và ngoài nước để tìm được nguồn than đá chất lượng với giá cả hợp lí. 

- Đối với việc nhập khẩu than cho sản xuất điện, tìm kiếm các chủ mỏ và đàm phán thoả thuận đạt được những nguồn than ổn định lâu dài bằng các hợp đồng trung và dài hạn (3-5 năm) với các chủ mỏ (với khối lượng từ 60% đến 80% tổng nhu cầu than).

Hotline Kinh Doanh
0901.388.136
Tổng đài chăm sóc khách hàng 24/7
Liên hệ với chúng tôi
Để được tư vấn chi tiết, vui lòng điền thông tin của bạn tại đây.
Cảm ơn bạn đã liên hệ với chúng tôi
Đã xảy ra lỗi. Vui lòng thử lại sau.
Than nhập khẩu
từ Indonesia
Tìm hiểu
Than nhập khẩu
từ Nga
Tìm hiểu
Than nhập khẩu
từ Úc
Tìm hiểu
0901 388 136